욥기 6장 Vietnamese (1934)
Vietnamese (1934) · 베트남어 · 욥기 (Job) · 30절 · 대역: King James Version
| 절 | Vietnamese (1934) | King James Version |
|---|---|---|
| 1 | Gióp đáp lại rằng: | But Job answered and said, |
| 2 | Ôi! Chớ gì nỗi buồn tôi nhắc cân cho đúng, Và các tai nạn tôi để trên cân thăng bằng! | Oh that my grief were throughly weighed, and my calamity laid in the balances together! |
| 3 | Vì hiện giờ nó nặng hơn cát biển; Nên tại cớ ấy các lời nói đại ra. | For now it would be heavier than the sand of the sea: therefore my words are swallowed up. |
| 4 | Bởi vì các tên của Ðấng Toàn năng trúng nhằm tôi; Tâm hồn tôi uống nọc độc của tên ấy; Sự kinh khiếp của Ðức Chúa Trời dàn trận nghịch cùng tôi. | For the arrows of the Almighty are within me, the poison whereof drinketh up my spirit: the terrors of God do set themselves in array against me. |
| 5 | Chớ thì con lừa rừng nào kêu la khi có cỏ? Còn bò nào rống khi có lương thảo? | Doth the wild ass bray when he hath grass? or loweth the ox over his fodder? |
| 6 | Vật chi lạt lẽo, người ta nào ăn chẳng bỏ muối? Còn trong lòng trắng trứng gà, đâu có mùi lai gì? | Can that which is unsavoury be eaten without salt? or is there any taste in the white of an egg? |
| 7 | Vật gì linh hồn tôi từ chối đá đến, Lại trở nên vật thực gớm ghê của tôi. | The things that my soul refused to touch are as my sorrowful meat. |
| 8 | Ôi! Chớ gì lời sở cầu tôi được thành, Và Ðức Chúa Trời ban cho tôi điều tôi ao ước! | Oh that I might have my request; and that God would grant me the thing that I long for! |
| 9 | Chớ chi Ðức Chúa Trời đẹp lòng cà tán tôi, Buông tay Ngài ra trừ diệt tôi! | Even that it would please God to destroy me; that he would let loose his hand, and cut me off! |
| 10 | Vậy, tôi sẽ còn được an ủy, Và trong cơn đau đớn chẳng giản, Tôi sẽ vui mừng, bởi vì không có từ chối lời phán của Ðấng Thánh. | Then should I yet have comfort; yea, I would harden myself in sorrow: let him not spare; for I have not concealed the words of the Holy One. |
| 11 | Sức lực tôi nào đủ đợi cho nỗi, Cuối cùng tôi sẽ ra sao, mà tôi lại nhẫn nhịn được? | What is my strength, that I should hope? and what is mine end, that I should prolong my life? |
| 12 | Sức tôi há là sức đá sao? Thịt tôi há dễ là đồng? | Is my strength the strength of stones? or is my flesh of brass? |
| 13 | Trong mình tôi chẳng có sự tiếp cứu, sự khôn ngoan bị cất khỏi tôi, Ấy há chẳng phải như vậy sao? | Is not my help in me? and is wisdom driven quite from me? |
| 14 | Kẻ gần xui té, đáng được bạn bầu thương xót đến, E kẻo người bỏ sự kính sợ Ðấng Toàn năng. | To him that is afflicted pity should be shewed from his friend; but he forsaketh the fear of the Almighty. |
| 15 | Anh em tôi dối gạt tôi như dòng khe cạn nước, Như lòng khe chảy khô. | My brethren have dealt deceitfully as a brook, and as the stream of brooks they pass away; |
| 16 | Nó bị đục vì cớ nước đá, Có giá tuyết ẩn ở trong. | Which are blackish by reason of the ice, and wherein the snow is hid: |
| 17 | Nhưng trong khi giựt xuống, khe bèn khô cạn, Lúc nắng giọi, nó lại biến khỏi chỗ nó. | What time they wax warm, they vanish: when it is hot, they are consumed out of their place. |
| 18 | Ðoàn khách đi ngang qua nó bèn tẻ tách đường, Ði vào trong Sa mạc, rồi chết mất. | The paths of their way are turned aside; they go to nothing, and perish. |
| 19 | Ðoàn khách ở Thê-ma tìm kiếm nước nó, Các kẻ bộ hành Sê-ba nhờ cậy nó; | The troops of Tema looked, the companies of Sheba waited for them. |
| 20 | Nhưng chúng bị mắc cỡ vì nhờ cậy nơi nó; Khi đến tại khe, bèn phải hổ thẹn. | They were confounded because they had hoped; they came thither, and were ashamed. |
| 21 | Hiện nay các bạn cũng không ra gì hết; Các bạn thấy sự đáng kinh khiếp, bèn run sợ. | For now ye are nothing; ye see my casting down, and are afraid. |
| 22 | Tôi há có nói rằng: Xin cung cấp cho tôi, Trong tài sản của các bạn, xin hãy lấy lễ vật dâng cho tôi, sao? | Did I say, Bring unto me? or, Give a reward for me of your substance? |
| 23 | Hoặc cầu rằng: Xin hãy giải cứu tôi khỏi tay kẻ cừu địch, Và chuộc tôi khỏi tay kẻ hà hiếp ư? | Or, Deliver me from the enemy’s hand? or, Redeem me from the hand of the mighty? |
| 24 | Hãy dạy dỗ tôi, tôi sẽ nín lặng; Xin chỉ cho tôi hiểu tôi đã lầm lỗi nơi nào. | Teach me, and I will hold my tongue: and cause me to understand wherein I have erred. |
| 25 | Lời chánh trực có sức lực dường bao! Còn lời trách móc của các bạn nào có trách được gì? | How forcible are right words! but what doth your arguing reprove? |
| 26 | Các bạn muốn trách móc tiếng nói sao? Song lời của một người ngã lòng chỉ như luồng gió. | Do ye imagine to reprove words, and the speeches of one that is desperate, which are as wind? |
| 27 | Quả thật, các bạn xông hãm kẻ mồ côi, Và đào hầm gài bạn hữu mình. | Yea, ye overwhelm the fatherless, and ye dig a pit for your friend. |
| 28 | Vậy bây giờ, nếu các bạn muốn, hãy ngó tôi, Tôi nào dám nói dối trước mặt các bạn đâu. | Now therefore be content, look upon me; for it is evident unto you if I lie. |
| 29 | Xin khá xét lại; chớ có sự bất công; Phải, hãy xét lại, vì duyên cớ tôi là công bình. | Return, I pray you, let it not be iniquity; yea, return again, my righteousness is in it. |
| 30 | Có điều bất công nơi lưỡi tôi chăng? ổ gà tôi há chẳng phân biệt điều ác sao? | Is there iniquity in my tongue? cannot my taste discern perverse things? |
Vietnamese (1934) — getbible.net(CrossWire SWORD 모듈)에서 가져옴 · 라이선스: 공개 도메인 (Public Domain) · 출처 ↗
King James Version — getbible.net(CrossWire SWORD 모듈)에서 가져옴 · 라이선스: GPL