시편 44편 Vietnamese (1934)
Vietnamese (1934) · 베트남어 · 시편 (Psalms) · 26절 · 대역: King James Version
| 절 | Vietnamese (1934) | King James Version |
|---|---|---|
| 1 | Hỡi Ðức Chúa Trời, lỗ tôi chúng tôi có nghe, Tổ phụ chúng tôi đã thuật lại Công việc Chúa đã làm trong đời họ, Buổi ngày xưa. | We have heard with our ears, O God, our fathers have told us, what work thou didst in their days, in the times of old. |
| 2 | Chúa dùng tay mình đuổi các dân tộc ra, song lại tài bồi tổ phụ chúng tôi; Chúa làm khổ cho các dân; nhưng lại làm cho tổ phụ chúng tôi lan ra. | How thou didst drive out the heathen with thy hand, and plantedst them; how thou didst afflict the people, and cast them out. |
| 3 | Vì họ chẳng nhờ thanh gươm mình mà được xứ, Cũng chẳng nhờ cánh tay mình mà được cứu; Bèn nhờ tay hữu Chúa, cánh tay Chúa, và sự sáng mặt Chúa, Vì Chúa làm ơn cho họ. | For they got not the land in possession by their own sword, neither did their own arm save them: but thy right hand, and thine arm, and the light of thy countenance, because thou hadst a favour unto them. |
| 4 | Hỡi Ðức Chúa Trời, Chúa và vua tôi; Cầu Chúa ban lịnh giải cứu Gia-cốp. | Thou art my King, O God: command deliverances for Jacob. |
| 5 | Nhờ Chúa, chúng tôi sẽ xô đổ cừu địch chúng tôi; Nhơn danh Chúa, chúng tôi giày đạp những kẻ dấy nghịch cùng chúng tôi. | Through thee will we push down our enemies: through thy name will we tread them under that rise up against us. |
| 6 | Vì tôi chẳng nhờ cậy cung tôi, Thanh gươm tôi cũng sẽ chẳng cứu tôi đâu; | For I will not trust in my bow, neither shall my sword save me. |
| 7 | Nhưng Chúa đã cứu chúng tôi khỏi cừu địch chúng tôi, Làm bỉ mặt những kẻ ghen ghét chúng tôi. | But thou hast saved us from our enemies, and hast put them to shame that hated us. |
| 8 | Hằng ngày chúng tôi đã khoe mình về Ðức Chúa Trời, Lại sẽ cảm tạ danh Chúa đến đời đời. | In God we boast all the day long, and praise thy name for ever. Selah. |
| 9 | Song nay Chúa đã từ bỏ chúng tôi, làm cho chúng tôi bị nhuốc nhơ, Chúa chẳng còn đi ra cùng đạo binh chúng tôi nữa. | But thou hast cast off, and put us to shame; and goest not forth with our armies. |
| 10 | Chúa khiến chúng tôi lui lại trước mặt cừu địch, Và kẻ ghét chúng tôi cướp lấy của cho mình. | Thou makest us to turn back from the enemy: and they which hate us spoil for themselves. |
| 11 | Chúa đã phó chúng tôi khác nào chiên bị định làm đồ ăn, Và đã làm tan lạc chúng tôi trong các nước. | Thou hast given us like sheep appointed for meat; and hast scattered us among the heathen. |
| 12 | Chúa đã bán dân sự Chúa không giá chi, Và đáng giá chúng nó chẳng cao. | Thou sellest thy people for nought, and dost not increase thy wealth by their price. |
| 13 | Chúa làm chúng tôi thành vật ô nhục cho kẻ lân cận chúng tôi, Làm đồ nhạo báng và một sự chê cười cho những kẻ ở xung quanh. | Thou makest us a reproach to our neighbours, a scorn and a derision to them that are round about us. |
| 14 | Chúa làm chúng tôi nên tục ngữ giữa các nước, Trong các dân, ai thấy chúng tôi bèn lắc đầu. | Thou makest us a byword among the heathen, a shaking of the head among the people. |
| 15 | Cả ngày sự sỉ nhục ở trước mặt tôi, Sự hổ ngươi bao phủ mặt tôi, | My confusion is continually before me, and the shame of my face hath covered me, |
| 16 | Tại vì tiếng sỉ nhục mắng chưởi, Và vì cớ kẻ thù nghịch và kẻ báo thù. | For the voice of him that reproacheth and blasphemeth; by reason of the enemy and avenger. |
| 17 | Mọi đều ấy đã xảy đến cho chúng tôi; song chúng tôi nào quên Chúa. Cũng không bội nghịch giao ước của Chúa. | All this is come upon us; yet have we not forgotten thee, neither have we dealt falsely in thy covenant. |
| 18 | Lòng chúng tôi không thối lại, Bước chúng tôi cũng không trở khỏi lối Chúa. | Our heart is not turned back, neither have our steps declined from thy way; |
| 19 | Dầu vậy, Chúa đã bẻ nát chúng tôi trong chỗ chó rừng, Bao phủ chúng tôi bằng bóng sự chết. | Though thou hast sore broken us in the place of dragons, and covered us with the shadow of death. |
| 20 | Nếu chúng tôi có quên danh Ðức Chúa Trời chúng tôi, Hoặc giơ tay mình hướng về một thần lạ, | If we have forgotten the name of our God, or stretched out our hands to a strange god; |
| 21 | Ðức Chúa Trời há sẽ chẳng hỏi tra sao? Vì Ngài biết thấy sự bí mật của lòng. | Shall not God search this out? for he knoweth the secrets of the heart. |
| 22 | Thật vì Chúa mà hằng ngày chúng tôi bị giết, Chúng tôi bị kể như con chiên dành cho lò cạo. | Yea, for thy sake are we killed all the day long; we are counted as sheep for the slaughter. |
| 23 | Hỡi Chúa, hãy tỉnh thức! Nhơn sao Chúa ngủ? Hãy chổi dậy, chớ từ bỏ chúng tôi luôn luôn. | Awake, why sleepest thou, O Lord? arise, cast us not off for ever. |
| 24 | Cớ sao Chúa giấu mặt đi, Quên nỗi hoạn nạn và sự hà hiếp chúng tôi? | Wherefore hidest thou thy face, and forgettest our affliction and our oppression? |
| 25 | Vì linh hồn chúng tôi bị phục dưới bụi tro; Thân thể chúng tôi dính vào đất. | For our soul is bowed down to the dust: our belly cleaveth unto the earth. |
| 26 | Xin Chúa hãy chổi dậy mà giúp đỡ chúng ta, Hãy vì sự nhơn từ Chúa mà chuộc chúng tôi. | Arise for our help, and redeem us for thy mercies’ sake. |
Vietnamese (1934) — getbible.net(CrossWire SWORD 모듈)에서 가져옴 · 라이선스: 공개 도메인 (Public Domain) · 출처 ↗
King James Version — getbible.net(CrossWire SWORD 모듈)에서 가져옴 · 라이선스: GPL