욥기 30장 Vietnamese (1934)
Vietnamese (1934) · 베트남어 · 욥기 (Job) · 31절 · 대역: King James Version
| 절 | Vietnamese (1934) | King James Version |
|---|---|---|
| 1 | Song bây giờ, kẻ trẻ tuổi hơn tôi nhạo báng tôi, Mà cha họ tôi đã khinh, chẳng khứng để Chung với chó của bầy chiên tôi. | But now they that are younger than I have me in derision, whose fathers I would have disdained to have set with the dogs of my flock. |
| 2 | Sức mạnh của họ đã hư hại rồi; Vậy, sức lực tay họ dùng làm ích gì cho tôi? | Yea, whereto might the strength of their hands profit me, in whom old age was perished? |
| 3 | Chúng ốm tong vì bị đói kém thiếu thốn, đi gậm cạp đất khô hóc, Từ lâu đã bỏ hoang vắng vẻ. | For want and famine they were solitary; fleeing into the wilderness in former time desolate and waste. |
| 4 | Chúng hái rau sam biển trong bụi cây, Rễ cây giêng giếng làm vật thực cho họ. | Who cut up mallows by the bushes, and juniper roots for their meat. |
| 5 | Chúng bị đuổi đi khỏi giữa loài người; Người ta kêu la chúng như kêu la kẻ trộm. | They were driven forth from among men, (they cried after them as after a thief;) |
| 6 | Chúng phải ở trong trũng gớm ghê, Trong hang đất và giữa các hòn đá. | To dwell in the clifts of the valleys, in caves of the earth, and in the rocks. |
| 7 | Chúng tru thét giữa bụi cây, Nằm lộn lạo nhau dưới các lùm gai. | Among the bushes they brayed; under the nettles they were gathered together. |
| 8 | Chúng là con cái kẻ ngu xuẩn, cha họ chẳng tuổi tên, Họ bị đuổi ra khỏi xứ. | They were children of fools, yea, children of base men: they were viler than the earth. |
| 9 | Còn bây giờ, tôi trở nên lời ca hát của họ, Làm đề cho chuyện trò của họ. | And now am I their song, yea, I am their byword. |
| 10 | Họ gớm ghiếc tôi, xa lánh tôi, Không kiêng nhổ khạc nơi mặt tôi. | They abhor me, they flee far from me, and spare not to spit in my face. |
| 11 | Bởi vì Ðức Chúa Trời đã làm dùn cây cung tôi, và sỉ nhục tôi. Chúng ném hàm khớp khỏi trước mặt tôi. | Because he hath loosed my cord, and afflicted me, they have also let loose the bridle before me. |
| 12 | Cái hố lu la nầy dấy lên nơi tay hữu tôi; Chúng xô đẩy chơn tôi, Sửa soạn cho tôi con đường hiểm độc của chúng. | Upon my right hand rise the youth; they push away my feet, and they raise up against me the ways of their destruction. |
| 13 | Chúng phá hủy đường lối tôi, Giúp vào việc tàn hại tôi; Song chẳng có ai đến tiếp cứu chúng. | They mar my path, they set forward my calamity, they have no helper. |
| 14 | Chúng do nơi hư lũng lớn mà đến, Xông vào tôi giữa sự đồi tàn. | They came upon me as a wide breaking in of waters: in the desolation they rolled themselves upon me. |
| 15 | Các sự kinh khủng hãm áp tôi, Ðuổi theo sự sang trọng tôi khác nào gió mạnh, Và sự phước hạnh tôi đã qua như đám mây. | Terrors are turned upon me: they pursue my soul as the wind: and my welfare passeth away as a cloud. |
| 16 | Bây giờ, linh hồn tôi tan ra trong mình tôi; Các ngày gian nan đã hãm bắt tôi, | And now my soul is poured out upon me; the days of affliction have taken hold upon me. |
| 17 | Ðêm soi xương cốt tôi làm nó rời ra khỏi tôi, Ðau đớn vẫn cắn rỉa tôi, không ngưng nghỉ chút nào. | My bones are pierced in me in the night season: and my sinews take no rest. |
| 18 | Vì cớ năng lực lớn của Ðức Chúa Trời, áo ngoài tôi hư nát; Năng lực ấy riết khí tôi lại như cổ áo tôi. | By the great force of my disease is my garment changed: it bindeth me about as the collar of my coat. |
| 19 | Ðức Chúa Trời có ném tôi xuống bùn, Tôi trở nên giống như bụi và tro. | He hath cast me into the mire, and I am become like dust and ashes. |
| 20 | Tôi kêu la cùng Chúa, song Chúa chẳng đáp lời; Tôi đứng tại đó, và Chúa chỉ ngó xem tôi. | I cry unto thee, and thou dost not hear me: I stand up, and thou regardest me not. |
| 21 | Chúa trở nên dữ tợn đối với tôi, Lấy năng lực tay Chúa mà rượt đuổi tôi. | Thou art become cruel to me: with thy strong hand thou opposest thyself against me. |
| 22 | Chúa cất tôi lên trên cánh gió, Khiến nó đem tôi đi, và tiêu diệt tôi giữa trận bão. | Thou liftest me up to the wind; thou causest me to ride upon it, and dissolvest my substance. |
| 23 | Vì tôi biết rằng Chúa sẽ dẫn tôi đến chốn sự chết, Là nơi hò hẹn của các người sống. | For I know that thou wilt bring me to death, and to the house appointed for all living. |
| 24 | Song trong khi người nào bị tàn hại, họ há chẳng giơ tay ra sao? Hoặc đương cơn tai nạn, họ há không cất tiếng kêu la ư? | Howbeit he will not stretch out his hand to the grave, though they cry in his destruction. |
| 25 | Chớ thì tôi không khóc kẻ bị thời thế khó khăn sao? Lòng tôi há chẳng buồn thảm vì kẻ nghèo khổ sao? | Did not I weep for him that was in trouble? was not my soul grieved for the poor? |
| 26 | Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho. | When I looked for good, then evil came unto me: and when I waited for light, there came darkness. |
| 27 | Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi. | My bowels boiled, and rested not: the days of affliction prevented me. |
| 28 | Tôi đi mình mảy bằm đen, nhưng chẳng phải bị nắng ăn; Tôi chổi dậy giữa hội chúng và kêu cầu tiếp cứu. | I went mourning without the sun: I stood up, and I cried in the congregation. |
| 29 | Tôi bèn trở thành anh em của chó rừng, Và bầu bạn của con đà điểu. | I am a brother to dragons, and a companion to owls. |
| 30 | Da tôi thành đen và rơi ra khỏi mình, Xương cốt tôi bị nóng cháy đi. | My skin is black upon me, and my bones are burned with heat. |
| 31 | Vì cớ ấy, tiếng đờn cầm tôi trở nên tiếng ai bi, Và đờn sắt tôi chỉ ra tiếng thảm sầu. | My harp also is turned to mourning, and my organ into the voice of them that weep. |
Vietnamese (1934) — getbible.net(CrossWire SWORD 모듈)에서 가져옴 · 라이선스: 공개 도메인 (Public Domain) · 출처 ↗
King James Version — getbible.net(CrossWire SWORD 모듈)에서 가져옴 · 라이선스: GPL